Chữ Quốc Ngữ Bành Trướng từ Nam ra Bắc – Nguyễn Phú Phong, 14 Trang



qqChữ Quốc Ngữ (viết tắt là Quốc Ngữ) là hệ thống chữ viết chính thức hiện nay của tiếng Việt. Hệ thống này được xây dựng dựa trên chữ cái Latinh (cụ thể là trực tiếp từ chữ cái Bồ Đào Nha) thêm các chữ ghép và 9 dấu phụ — 4 dấu tạo ra các âm mới, và năm dấu còn lại dành cho thể hiện thanh điệu của từ. Hai loại dấu phụ có thể được viết cùng trên một chữ cái nguyên âm.
Bảng chữ cái tiếng Việt có 29 chữ cái, theo thứ tự:
A     Ă     Â     B     C     D     Đ     E     Ê     G     H     I     K     L     M     N     O     Ô     Ơ     P     Q     R     S     T     U     Ư     V     X     Y
a     ă     â     b     c     d     đ     e     ê     g     h     i     k     l     m     n     o     ô     ơ     p     q     r     s     t     u     ư     v     x     y
Ngoài ra, có 9 chữ ghép đôi và 1 chữ ghép ba.
CH GH GI KH NG NGH NH PH TH TR
Trước đây, các chữ ghép này được coi như một chữ cái độc lập và có thể được tìm thấy trong từ điển cũ. Ngày nay chúng không được coi là chữ cái độc lập mà là chữ ghép; ví dụ trong việc xếp thứ tự, “CH” nằm giữa “CA” và “CO” trong các từ điển hiện đại.
Các chữ cái “F”, “J”, “W” và “Z” không có trong bảng chữ cái tiếng Việt, nhưng có thể bắt gặp trong các từ vay mượn từ tiếng nước ngoài. “W” thỉnh thoảng được dùng trong cách viết tắt thay “Ư”. Hiện đang có ý kiến cho rằng, cần bổ sung thêm bốn chữ cái kể trên vào bảng chữ cái tiếng Việt để hợp thức hóa cách sử dụng để đáp ứng sự phát triển của tiếng Việt hiện đại

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s